Mật khẩu Lưu mật khẩu!

Đăng ký thành viên để đăng tin miễn phí . Cho phép đăng nhập bằng Gmail (Ví dụ: Tên đăng nhập : qn24h@gmail.com ; Mật khẩu:******)

Từ sản vật địa phương đến con đường làm giàu bền vững

Đất Quảng Ninh, dù trên rừng hay dưới biển đều được thiên nhiên ưu đãi nhiều sản vật phong phú, đặc sắc. Có phải vùng đất này vốn được xem như một "Việt Nam thu nhỏ" nên không hiếm "thức ngon, vật lạ".

Mỗi sản vật đều được gắn liền với một địa danh. Đó là chè Hải Hà, gà Tiên Yên, miến dong Bình Liêu, gạo nếp Đông Triều... Không chỉ nức tiếng trong tỉnh, những sản vật này đang được đưa vào phát triển theo quy mô lớn, hướng ra thị trường rộng hơn. Cũng từ đó, bộ mặt nông thôn mới cũng đang dần đổi thay từng ngày…
alt
Cán bộ Sở NN&PTNT cùng các hộ nông dân huyện Hải Hà tham quan mô hình trồng chè tại xã Quảng Long (huyện Hải Hà).

Thơm đượm chè Hải Hà…

Nếu ai đó có dịp đến Hải Hà vào độ tháng 2-3 âm lịch, ắt hẳn sẽ thấy ngút mắt bởi những đồi đồng chè xanh mướt trải dài. Người ta nhẩm tính, cây chè đã "bén duyên" trên đất Hải Hà tính đến nay đã ngót nghét 50 năm. Và cũng chừng ấy năm, cây chè gần như là "cứu cánh" cho nhiều hộ nông dân trong việc phát triển sản xuất.

Gia đình ông Trần Bá Báu, thôn 4, xã Quảng Sơn là một ví dụ. Ông cho biết: Tôi lập nghiệp ở Hải Hà từ những năm 80. Lặn lội, vất vả tìm kế sinh nhai mãi cuối cùng mới tìm được hướng phát triển kinh tế. Năm 1990 tôi mạnh dạn nhận khoảng 30ha đất vừa trồng rừng, vừa trồng chè. Mặc dù diện tích trồng chè chỉ khoảng 2ha nhưng thu hoạch từ chè nhanh hơn trồng rừng, vậy nên mới đủ giúp gia đình trang trải mọi thứ.

Cũng từ cây chè, chúng tôi phát triển thêm một bước mới là chế biến và sản xuất chè. Đến nay gia đình tôi cũng đã có một cơ sở sản xuất chè quy mô, thu hút 20 lao động thường xuyên với mức lương từ 2,5 triệu đến 3 triệu đồng/người/ tháng. Nhẩm tính thu nhập bình quân của gia đình chúng tôi khoảng 200-300 triệu đồng/năm. Trong đó, thu nhập từ cây chè cũng không nhỏ.

Thống kê của huyện Hải Hà, tổng diện tích chè trên địa bàn huyện hiện nay đạt gần 1.000 ha. Trong đó khoảng 500 ha giống chè chất lượng cao như LDP1, LDP2; 70 ha loại chè: Keo Am Tích, Phúc Vân Tiên, Ô Long, Ngọc Thuý...  sản lượng chè búp tươi trung bình hàng năm trên 5.000 tấn.

Cây chè đã mang lại thu nhập ổn định cho trên 2.000 hộ dân trên địa bàn huyện. Từ chỗ chỉ đơn thuần là trồng chè, đến nay nhiều hộ gia đình đã tiếp tục đầu tư máy móc để sản xuất, chế biến chè tại chỗ, mang lại giá trị kinh tế cao hơn cho cây chè.

Có thể nói, ít có một sản vật nào trên đất Hải Hà mang lại nguồn thu nhập ổn định cho nhiều hộ gia đình như cây chè. Nhưng mặt khác, hành trình để phát triển cây chè đối với các hộ gia đình cũng không kém phần gian truân. Lý do rất đơn giản, nếu chỉ dựa vào chất lượng thì cây chè Hải Hà khó lòng vươn xa khỏi địa bàn tỉnh.

Trước những thăng trầm của nghề trồng chè, huyện Hải Hà đã vào cuộc một cách mạnh mẽ để "cứu" vùng chè. Các xã, các ngành, đoàn thể vào cuộc tuyên truyền vận động nhân dân về khả năng phục hồi kinh tế để người dân giữ lại và chăm sóc diện tích chè hiện có.

Đồng thời tiếp tục tăng diện tích trồng mới, hoàn thành chỉ tiêu phát triển 1.000 ha vùng nguyên liệu chè đến năm 2010 theo kế hoạch của tỉnh. Cùng với hỗ trợ từ dự án để mua máy móc phục vụ sản xuất chè, nhiều hộ dân cũng đã tự đầu tư mua máy sao chè mi-ni để sơ chế, bảo quản chè.

Ngay tại Quảng Long, xã chiếm diện tích chè lớn nhất trên địa bàn huyện với 470 ha, trung bình cứ 4 hộ trồng chè thì 1 hộ có máy sao chè. Điều này đã thể hiện những chuyển biến trong nhận thức của người nông dân, biến sản phẩm thô thành hàng hoá có giá trị kinh tế cao hơn.
alt
Mô hình nuôi gà tại xã Đông Ngũ (Tiên Yên).

Đậm đà gà Tiên Yên

Thêm một đặc sản ở miền Đông lưu luyến lòng người phương xa, đó chính là món gà Tiên Yên. Thật vậy, bất cứ ai có dịp đến thăm "cửa ngõ miền Đông" đều không bỏ lỡ cơ hội được nếm thử món thịt gà - đặc sản nổi tiếng của vùng đất này.

Với đặc thù chăn thả tự do nên thịt gà Tiên Yên chắc, thơm - cộng thêm với cách chế biến của riêng người miền Đông cho món ăn này nên dù chỉ là gà luộc đơn thuần, song đây vẫn là một món ăn hấp dẫn với tất cả các thực khách. Vì lẽ này mà từ lâu gà Tiên Yên đã trở thành một thứ hàng hoá mang lại nguồn lợi kinh tế cao cho người sản xuất. G

iá bán trung bình 1kg gà thịt dao động từ 85.000-90.000đ, có những thời điểm có thể lên tới 110.000đ/kg. Đặc biệt là vào những dịp lễ tết, gà Tiên Yên không đủ cung cấp cho nhu cầu thị trường. Theo lãnh đạo huyện cho biết, "thương hiệu gà Tiên Yên" đã được nhiều nhà hàng của các tỉnh, thành quảng bá đến khách bằng sản phẩm thực tế.

Xác định được thế mạnh phát triển này, bắt đầu từ năm 2004 huyện Tiên Yên đã trích kinh phí từ nguồn ngân sách huyện thực hiện dự án bảo tồn gà Tiên Yên. Từ dự án này mà phong trào chăn nuôi gà trên địa bàn huyện đã đạt được những bước phát triển nhất định. Tổng đàn gà của huyện Tiên Yên qua các năm ngày càng tăng.

Đặc biệt trong giai đoạn năm 2008-2010, huyện đã đẩy nhanh dự án phát triển đàn gà Tiên Yên với một quy mô lớn. Mục đích của dự án phát triển đàn gà Tiên Yên là nhằm bảo tồn và phát triển giống gà Tiên Yên trên địa bàn huyện, tiến hành xây dựng một số mô hình chăn nuôi tập trung từ 100 đến 500 con/hộ.

Tính đến thời điểm này (năm 2010) tổng đàn gà các loại trên địa bàn đạt từ 180.000 đến 200.000 con, sản lượng gà hàng hóa đạt 100 đến 150 tấn, trong đó riêng tổng đàn gà và sản lượng giống gà Tiên Yên chiếm 75 đến 80%.

Sau khi 2 dự án bảo tồn và phát triển giống gà Tiên Yên được triển khai từ năm 2004 đến nay, giống gà Tiên Yên - một trong những đặc sản nổi tiếng của vùng đất này không những được bảo tồn mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngành chăn nuôi.

Hiện nay, hầu hết các hộ gia đình trong vùng dự án phát triển đàn gà Tiên Yên ở ba xã là Đông Hải, Đông Ngũ và Phong Dụ đều nuôi trung bình từ 30 đến 50 con gà, điển hình đã có những hộ nuôi 100 con trở lên. Nhiều hộ gia đình đã mạnh dạn đầu tư xây dựng trang trại, phục vụ cho hoạt động chăn nuôi.

Chị Nguyễn Thị Hồi ở thôn Sán Sế Đông, xã Đông Ngũ cho biết: Được sự hỗ trợ của nhà nước, tháng 4-2009, gia đình tôi đã đầu tư một máy ấp trứng và tính đến nay đã ấp nở thành công và xuất ra thị trường được hơn 200 nghìn con gà giống.

Với nhu cầu nuôi gà phát triển mạnh mẽ như hiện nay thì gia đình không cung cấp đủ gà giống cho các hộ gia đình trên địa bàn và các huyện lân cận. Hằng năm, tổng thu nhập từ bán gà giống và gà thịt đã đem về cho gia đình từ vài chục đến cả trăm triệu đồng.

Biến một thứ sản phẩm mang tính tự cung tự cấp thành hàng hoá có giá trị kinh tế cao, phát triển theo quy mô công nghiệp đã khiến cho bộ mặt nông thôn Tiên Yên có sự chuyển biến đáng kể. Từ mô hình phát triển giống gà địa phương, những người nông dân đã thoát nghèo bền vững. Đây cũng là một trong những giải pháp triển khai xây dựng nông thôn mới của địa phương trong thời gian tới.
alt
Với việc đầu tư máy chế biến miến dong đã giúp cho hộ gia đình anh La A Chiu, xã Húc Động nâng cao thu nhập trong nghề này.

Dẻo dai miến dong Bình Liêu

Cây dong riềng với sản phẩm "miến dong Bình Liêu" nổi tiếng đang ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều doanh nghiệp và người tiêu dùng cả nước. Miến dong Bình Liêu là sản phẩm tương đối khác biệt so với các sản phẩm cùng loại có mặt trên thị trường. Sự khác biệt đó xuất phát từ nguyên liệu và công nghệ sản xuất, đặc biệt là đối với các sản phẩm hiện nay còn đang sản xuất theo phương pháp thủ công, tự nhiên.

Trước đây, cây dong vốn chỉ được bà con nông dân trồng phục vụ cho chăn nuôi, nay nhờ chính sách chuyển dịch cơ cấu cây trồng đi đôi với việc tạo đầu ra cho sản phẩm, cây dong riềng đã trở thành nguyên liệu làm miến dong rất được ưa chuộng trên thị trường.

Từ năm 2000, huyện đã triển khai việc phát triển diện tích dong riềng và xây dựng các mô hình làm miến từ cây dong riềng cho người dân địa phương. Với sự chỉ đạo sâu sát của Huyện uỷ và sự điều hành hiệu quả của UBND, diện tích cây dong riềng được mở rộng và năng suất được nâng lên đáng kể.

Ngoài hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu, huyện còn tạo điều kiện để một số hộ đầu tư lắp đặt dây chuyền chế biến miến. Từ đó, nhiều hộ đã chuyển những diện tích cấy lúa năng suất thấp sang trồng dong riềng. Với giá bán khoảng 1.500 đồng/kg tại ruộng, 1 ha dong riềng có thể cho thu hoạch trên dưới 50 triệu đồng.

Nhiều hộ dân ở Bình Liêu, trong đó có không ít hộ là người dân tộc thiểu số đã vươn lên làm giàu. Đến thăm gia đình anh La A Chiu (xã Húc Động) chúng tôi thực sự ngỡ ngàng trước một cơ sở chế biến miến dong quy mô.

Rất nhiều khâu chế biến nguyên liệu đã được anh Chiu đầu tư máy móc để tăng năng suất cao hơn. Anh Chiu vui vẻ cho biết: Gia đình tôi là một trong số những hộ gia đình đã được huyện hỗ trợ trên 40 triệu đồng để mua dây chuyền làm miến với công suất 4-5 tấn củ/ngày.

Nhờ sự hỗ trợ hiệu quả này, cuộc sống gia đình anh đã có sự đổi thay đáng kể. Anh Chiu không ngại ngần khi chia sẻ trước đây kinh tế gia đình tôi khó khăn lắm, ăn có khi còn chẳng đủ no. Nay, gia đình anh La A Chiu vừa trồng cây dong riềng lại vừa thu mua và sản xuất miến nên cuộc sống khá hơn rất nhiều. Gia đình xây được nhà kiên cố, lại mua sắm các tiện nghi đắt tiền như xe máy, ti vi...

Từ năm 2006, huyện Bình Liêu đã đưa giống dong mới có năng suất cao vào trồng thử nghiệm, đồng thời có chính sách hỗ trợ về giống, phân bón và tập huấn kỹ thuật cho bà con nông dân. Sau một vụ trồng thử nghiệm, giống dong mới đã cho năng suất trung bình hơn 30 tấn/ha, cao hơn nhiều so với giống dong trước đây.

Hiện nay, ngoài xưởng sản xuất miến của Công ty CP Thương mại và Dịch vụ Bình Liêu thì vẫn còn 6 cơ sở chế biến miến dong có quy mô trung bình và nhiều cơ sở nhỏ trong dân cư. Sản lượng của những cơ sở chế biến này chiếm tới 2/3 sản lượng trung bình của cả huyện.

Để xây dựng thương hiệu cho miến dong Bình Liêu, trong thời gian qua Công ty CP Thương mại và Dịch vụ Bình Liêu đã đầu tư 2 dây chuyền sản xuất miến và bắt đầu sản xuất thử nghiệm miến dong trên quy mô công nghiệp.

Công ty đã sản xuất thành công sản phẩm miến dong đặc trưng cho đất Bình Liêu. Cuối năm 2007, với sự hỗ trợ của Sở Khoa học và Công nghệ, Công ty đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá cho sản phẩm miến dong.

Tại Hội chợ Quốc tế thương hiệu nổi tiếng 2007, sản phẩm miến dong của Công ty CP Thương mại và Dịch vụ Bình Liêu đã được trao Cúp Thương hiệu uy tín Việt Nam 2007 và Giấy Chứng nhận thương hiệu có uy tín với người tiêu dùng. Sản phẩm miến dong của doanh nghiệp cũng đã được kiểm nghiệm tại Viện Dinh dưỡng (Bộ Y tế) và được công nhận là sản phẩm dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe.

Việc xây dựng và quảng bá thương hiệu miến dong Bình Liêu không chỉ thúc đẩy sản xuất của riêng Công ty CP Thương mại và Dịch vụ Bình Liêu mà còn góp phần phát triển nghề sản xuất miến dong truyền thống của địa phương. Các cơ sở, các hộ gia đình cũng sản xuất nhiều hơn, vùng nguyên liệu được mở rộng hơn thay thế những cây trồng có hiệu quả kinh tế thấp.

Trên đây chỉ là 3 trong số rất nhiều sản vật ngon, nổi tiếng của Quảng Ninh. Và, điều quan trọng mà người viết bài này muốn gửi tới bạn đọc không chỉ là giới thiệu dưới góc độ ẩm thực. Bởi, các cụ có câu "món ngon nhớ lâu".

Chắc chắn, ai đã từng một lần thưởng thức sẽ chẳng thể quên. Song, điều đáng nói là từ những sản vật này, các vùng quê trên Đất mỏ đã biết lấy đó làm hướng phát triển kinh tế then chốt, làm nên cuộc sống mới ấm non.
Theo Hồng Nhung / Báo Quảng Ninh

By A Web Design


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

quangcao-saleschung

Giamgia dacbiet 300x90

Hiện có 2064 khách trực tuyến