Mật khẩu Lưu mật khẩu!

Đăng ký thành viên để đăng tin miễn phí . Cho phép đăng nhập bằng Gmail (Ví dụ: Tên đăng nhập : qn24h@gmail.com ; Mật khẩu:******)

Di sản văn hoá thời Mạc – Khẳng định về một đô thị đầu tiên của Đại Việt

Kỳ III: Vài nét về đạo quán thời Mạc

 

Đạo giáo du nhập vào Việt Nam cùng với thời kỳ áp đặt chính sách đô hộ của phong kiến phương Bắc. Vào thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên, trên đất Giao Châu đã xuất hiện ngày càng nhiều đạo sĩ đến tu luyện và truyền đạo; trong số này có đạo sĩ Cát Hồng lấy Tượng Sơn (núi Voi) ở An Lão, Hải Phòng ngày nay để mở lò luyện đan, tu tiên. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Sau vua Hán sai Trương Tân làm Thứ sử (Tân nhậm chức năm Kiến An thứ 6 (211 thời Hán)).

 

Tân thích việc quỷ thần, thường đội khăn đỏ, đốt hương, gảy đàn, đọc sách Đạo giáo, nói rằng có thể giúp việc giáo hóa”. Theo các nhà nghiên cứu, thời Lý, quán Đạo giáo đầu tiên được xây dựng là quán Chân Vũ, sau khu vua Lý dời đô ra Thăng Long năm 1057, gọi là quán Bắc Đế… Đặc biệt, sang đến thời Mạc, tư tưởng Nho giáo bị lâm khủng hoảng trầm trọng đã làm cho nhiều người, nhất là tầng lớp trí thức nương vào Đạo Lão để cứu cánh tinh thần, cầu mong một cuộc sống ẩn dật, nhà tản, vô vi.

 

Mặc dù chưa có đủ nguồn tư liệu giúp hiểu biết một cách cặn kẽ về sự phục hồi của Đạo giáo dưới triều Mạc, nhưng qua chứng cứ vật chất hiện tồn, chí ít cũng cho chúng ta biết được trong thế kỷ XVI có tới 8 ngôi quán Đạo được tu sửa và làm mới.

Qua các tư liệu văn bia thấy rằng có khá nhiều ngôi quán được xây dựng thời Lý, nhưng hầu như đều hư hại, đến thời Mạc được tu bổ và làm mới. Kiến trúc của quán thời Mạc tương tự chùa, gồm chủ yếu một toà thượng điện, thiêu hương và tiền đường, như quán Hưng Thánh và quán Linh Tiên (Hà Nội). Quy mô mỗi nhà không lớn chỉ có 1 gian 2 dĩ tạo thành một tòa 3 gian nhỏ, như quán Chân Thánh, Hưng Thánh (Hưng Yên).

 

Tuy nhiên, có một số ngôi quán được mở rộng quy mô, nhất là được xây thêm nhà thờ Phật như văn bia quán Thuỵ Ứng (Hưng Yên) cho biết quán này năm 1562 được “sửa lại nhà thượng điện, làm thêm nhà Hậu đường và tô tượng Phật”…

 

Về sau, do thoát ly thực tế đi vào những giáo lý cao siêu, chuộng bùa phép, coi trọng quỷ thần nên Đạo giáo không được người Việt sùng tín bằng Nho giáo và Phật giáo, các đạo sĩ không có học trò kế tục, kể từ thời Mạc, các quán Đạo dần dần được “chuyển” gọi là chùa. Văn bia cho biết trong các quán Đạo có thờ cả tượng Phật.

 

Chẳng hạn như: Hưng Thánh quán gọi là chùa Mui, Hội Linh quán gọi là chùa Sổ, Linh Tiên quán gọi là chùa Linh Tiên…Thời nhà Mạc, nền kinh tế thương mại phát triển đã dẫn đến mối ứng xử với thần linh theo tinh thần mới, nhất là của tầng lớp thợ thuỷ công và thương nhân. Xu hướng chuyển đổi và quy tụ thế giới thần linh diễn ra khá phổ biến, xuất hiện những công trình kiến trúc thờ chung cả ba tôn giáo: Nho, Phật và Lão. Đó là hiện tượng của chùa Cao Dương (Thái Thuỵ - Thái Bình) và chùa Tam giáo ở xã Đại Phùng (Đan Phượng – Hà Nội).

 

Theo nội dung văn bia chùa Cao Dương do Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm biên soạn cho biết: chùa có từ lâu, đến năm Diên Thánh 1 (1578) – tức năm dựng bia, nhiều người đã đứng ra quyên tiền để dựng tượng Tam giáo (Thích Ca, Khổng Khâu, Lão Đam) và làm tượng Diệu thiện (Quan thế âm Bồ tát). Bia chùa Tam giáo dựng trước kia vốn đã có một vị đô đốc họ Mạc tu sửa, nay đổ nát nên mọi người góp tiền tu sửa lại, còn việc thờ Tam giáo, tác giả văn bia lý giải rằng: “Nho sĩ nghe giáo hoá mà hiểu điều nghĩa lý. Dẫu là tăng ni, đại sĩ không ai là không thấm nhuần giáo lý ấy.

 

Thế thì việc mở rộng chùa, đặt tên là chùa Tam giáo đã có từ xưa là vậy”. Rất tiếc ngày nay những ngôi chùa này không còn giữ được chứng tích nào nữa, nhưng dù sao qua văn bia chúng ta cũng hiểu thêm một nét mới trong tôn giáo thời Mạc.

 

Theo nhiều nhà nghiên cứu, thời Mạc cùng với việc sử dụng con sông Hồng, sông Thái Bình và các vùng cửa sông ven biển tích cực hơn dưới góc độ kinh tế, thì một số vị thần gắn với chài lưới được chuyển hóa thành thần buôn để có thể nhập vào hệ “tứ dân” (Sĩ – Nông – Công - Thương), nhờ vậy mới được tôn sùng, mới thu hút được sự tham gia của đông đảo giới thương nhân, thợ thủ công giàu có.

 

Ở những vùng mà kinh tế thương mại phát triển, như các khu vực ven biển, các nơi hội tụ đầu mối giao thông của nhiều con sông (điển hình là vùng đất Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Thanh Hoá, Lạng Sơn ngày nay) đã nảy sinh một vị thần linh mới: Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Bà là kết tinh nhuần nhuyễn của tất cả những thánh Mẫu, trở thành một đại diện tinh thần của thế lực mới đang lên, coi đó có thể là chỗ dựa tinh thần vững chắc của triều đình nhà Mạc và tầng lớp thương nhân Việt thế kỷ XVI. Vì vậy, ở lĩnh vực ý thức hệ, đã có một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa Thánh Mẫu Liễu Hạnh và các thế lực đối lập.

 

Cuối cùng Bà bị thất bại bởi gian kế của Tiền Quân Thánh, nhưng được đức Phật cứu thoát và Bà đã quy y Phạt pháp. Có thể nói, vào thời nhà Mạc tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã phát triển rộng khắp vùng Dương Kinh và dấu vết của tục thờ này hiện vẫn để lại khá đậm nét tại các làng xã ở Kiến Thuỵ, Đồ Sơn, Hải An, Thuỷ Nguyên, Cát Hải…Đặc biệt sau sự kiện “giáng sinh” của Liễu Hạnh công chúa vào thể kỷ XVI, thì những hoạt động tín ngưỡng Đạo giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu ngày càng đa dạng, sinh động và phổ biến rộng rãi.

 

Với nghi thức tín ngưỡng này thì dù Đạo quán có bị thu hẹp lại, nhưng thay vào đó là những ngôi điện, toà phủ, mà ở đó thường diễn ra các hoạt động “hầu đồng” rất “thần tiên”, linh dị, thu hút lòng người, thoả mãn nhu cầu tâm linh của lớp người buôn bán ngược xuôi. Tín ngưỡng “hầu đồng” thờ Mẫu ở thời Mạc phát triển đến mức sau này khi lên Cao Bằng đóng phiên triều nó đã kết hợp với tín ngưỡng bản địa để cho đời các thầy Then của người Tày. Cũng như các thanh đồng của tín ngưỡng thờ Mẫu, đa số các thầy Then là những người yêu nghệ thuật và đều là những nghệ sĩ dân gian thực thụ.

 

Theo Trần Phương / Báo an ninh Hải Phòng

By A Web Design


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

quangcao-saleschung

Giamgia dacbiet 300x90

Du lịch - Dịch vụ- Ẩm thực

Hiện có 2272 khách trực tuyến